Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn kính chào quý khách
KHU - CỤM CÔNG NGHIỆP
THÔNG TIN QUI HOẠCH
Cập nhật : 20/08/2010 9:58 
Tiềm năng của tỉnh 

I. Đặc điểm tình hình chung

Tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ ngày 01/01/1997 trên cơ sở chia tách 4 huyện, thị xã của tỉnh Bắc Thái và 2 huyện của tỉnh Cao Bằng. Đến nay tỉnh có 8 đơn vị hành chính, gồm 7 huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ với 122 xã, phường, thị trấn; trong đó còn 74 xã đặc biệt khó khăn. Tổng diện tích tự nhiên 4.857,21 km2, dân số trung bình năm 2006 trên 30 vạn người, với 7 dân tộc anh em gồm Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông, Hoa, Sán Chay, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80%.

Bắc Kạn là tỉnh nội địa, ở vị trí trung tâm các tỉnh thuộc khu Việt Bắc cũ, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; thị xã tỉnh lỵ cách Thủ đô Hà Nội 170 km theo đường Quốc lộ 3. Quốc lộ 3 qua tỉnh dài 123,5 km là đường giao thông quan trọng nhất tỉnh để giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh bạn. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các tuyến đường: Quốc lộ 279 từ Lạng San - huyện Na Rì, qua huyện Ngân Sơn, huyện Ba Bể, sang tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Hà Giang; Quốc lộ 3B từ Xuất Hoá - thị xã Bắc Kạn, qua Na Rì, sang huyện Tràng Định - tỉnh Lạng Sơn.

II - Một số kết quả đạt được sau 10 năm tái thành lập tỉnh

Khi mới tái lập, nền kinh tế chủ yếu là thuần nông; toàn tỉnh có 16 xã chưa có đường ô tô, 16 xã khác ô tô chỉ đến được trong mùa khô; 2 huyện và 102 xã chưa có điện lưới quốc gia; 93 xã chưa có điện thoại; 71% số phòng học làm bằng tranh tre, nứa lá… Lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo, Y tế tụt hậu so với địa phương khác trong cả nước. Toàn tỉnh còn có 36% xã chưa đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Số người mắc bệnh bướu cổ chiếm gần 30% dân số. Các tệ nạn cờ bạc, mê tín dị đoan, nghiện các chất ma tuý nhiều bức xúc. Tỷ lệ đói nghèo trên 50% số hộ dân (theo tiêu chuẩn cũ).

Được sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh bạn cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sau 10 năm tái lập, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả khá toàn diện.

Nền kinh tế phát triển khá với tốc độ phát triển bình quân đạt 10,85%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỉ trọng nông - lâm nghiệp. Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 9,6% lên 20,8%; khu vực dịch vụ tăng từ 22,8% lên 38,2% và khu vực nông, lâm nghiệp giảm từ 61,6 xuống còn 41%. GDP bình quân đầu người trên 4 triệu đồng/năm. Thu ngân sách 105 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 41,42% (tiêu chí mới). Cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư xây dựng, đến nay 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% số xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia; 100% số xã có điện thoại thông tin liên lạc. Các hoạt động văn hoá - xã hội ngày một phát triển. Năm 2005 tỉnh Bắc Kạn đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập Trung học cơ sở. Các chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ được triển khai có hiệu quả. Diện mạo nông thôn cũng như các trung tâm huyện lỵ, tỉnh lỵ đang từng ngày đổi thay theo chiều hướng văn minh, sạch đẹp. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố và giữ vững.

III - Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn đến năm 2010

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn quyết tâm thực hiện để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 20%/năm, trong đó: Nông lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 6,5%/năm, Công nghiệp, XDCB tăng 33%/năm, Dịch vụ tăng 24%/năm; Cơ cấu kinh tế: Nông lâm nghiệp, thuỷ sản 23%, Công nghiệp, XDCB 34%, Dịch vụ 43%; GDP bình quân đạt trên 9 triệu đồng/người/năm; Tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách bình quân đạt 10%/năm; Kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD; Xoá căn bản hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 20%.

Để đạt được các mục tiêu chủ yếu trên, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền các cấp cần tập trung chỉ đạo phát triển những lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng, phát huy tối đa mọi nguồn lực sẵn có của địa phương, tăng cường mở rộng hợp tác phát triển kinh tế, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài.

IV - Tiềm năng và lợi thế của tỉnh

1 - Về Công nghiệp:

Bắc Kạn có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng. Trên địa bàn tỉnh có 165 mỏ và điểm quặng, các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: Chì kẽm 70 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi xi măng 150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng trên 10 triệu m3, ngoài ra còn có antimon, titan, Kaolin, Silic....

Hiện nay đã có một số Doanh nghiệp đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến quặng chì kẽm ở quy mô nhỏ, sản phẩm mới chỉ đạt ở mức tinh quặng chì kẽm và chưa luyện được thành kẽm thỏi có hàm lượng cao. Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy Silic tại huyện Ngân Sơn đã bắt đầu có sản phẩm và đang được một số khách hàng trong và ngoài nước quan tâm ký hợp đồng tiêu thụ.

Với trữ lượng khoáng sản của Bắc Kạn có triển vọng đầu tư chế biến sâu ở quy mô vừa và nhỏ để nâng giá trị các loại khoáng sản lên cao hơn và tốt hơn phục vụ cho các ngành công nghiệp trong nước và tiến đến xuất khẩu.

Đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: xi măng, đá ốp lát, bột đá công nghiệp,rất có triển vọng ở Bắc Kạn.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn có nhiều hệ suối là đầu nguồn sông Đáy, sông Gâm, sông Chu… lưu vực nhỏ và độ dốc dòng chảy lớn, lòng hẹp và có nhiều thác ghềnh thuận tiện cho việc đầu tư các công trình thuỷ điện nhỏ.

Tỉnh Bắc Kạn có Khu công nghiệp Thanh Bình thuộc địa bàn xã Thanh Bình huyện Chợ Mới, nằm dọc trên trục đường QL3 cách trung tâm Hà Nội 130 km. Là nơi đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư đầu tư vào khu vực, tạo điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp. Tổng diện tích chiếm đất của Khu công nghiệp là 153,8ha.

2 - Về Nông lâm nghiệp

Bắc Kạn có tổng diện tích rừng lâm nghiệp là 420.990,5 ha, trong đó:
        
Đất có rừng là 263.503,9 ha; rừng tự nhiên 224.151,4 ha, rừng trồng 39.352,5 ha, đất chưa có rừng là 157.484,6 ha.

Cơ cấu rừng so với tổng diện tích đất lâm nghiệp như sau: rừng sản xuất 276.557,3 ha, chiếm 65,69%; rừng phòng hộ 118.449,2 ha, chiếm 28,14%; rừng đặc dụng 25.984 ha, chiếm 6,17%.

Sản lượng gỗ khai thác hàng năm trên 63.000 m3.
         
Điều kiện tự nhiên của Bắc Kạn rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng như Ngô, Khoai, Sắn... tỉnh đang ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trồng các loại cây cao sản như: Cà chua, dưa hấu, các loại rau sạch ở thị xã Bắc Kạn, huyện Bạch Thông và trồng hoa xuất khẩu ở Đồn Đèn - Hồ Ba Bể. Ngoài ra diện tích đất đồi rừng đã giao cho nông dân có thể trồng các loại cỏ làm thức ăn chăn nuôi.

Hiện nay tỉnh đang thực hiện đề án lớn về phát triển chăn nuôi trâu, bò giai đoạn 2006 - 2010. Việc thực hiện Đề án phát triển đàn trâu, bò đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ và đã hình thành Chợ mua bán gia súc (Chợ Bò xã Nghiên Loan huyện Pác Nặm). Ngoài ra tỉnh Bắc Kạn có thể phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn (heo), Gà, Dê... và nuôi cá Hồi phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

3 - Về Du lịch:

Tỉnh Bắc Kạn được thiên nhiên ban tặng cho một danh lam thắng cảnh là Hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ có diện tích rộng 500 ha, nằm trong khu vực vườn quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt. Hiện nay đang trình UNESCO công nhận vườn quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên thế giới.

Ngoài ra gần khu vực thị xã Bắc Kạn còn có 02 địa điểm có thể đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái và hệ thống vui chơi giải trí khá lý tưởng là Khu du lịch sinh thái Thác Bạc và Khu du lịch sinh thái Nặm Cắt, cách thị xã Bắc Kạn chỉ khoảng chừng trên 10 km.

Bắc Kạn có nhiều di tích lịch sử được xếp hạng, đặc biệt là các di tích cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như khu ATK Chợ Đồn; Khu di tích Nà Tu, Cẩm Giàng; Phủ Thông; Đèo Giàng.

4. Về nguồn lực con người:

Nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Kạn tuy không đông về số lượng bằng các tỉnh thành khác, nhưng Bắc Kạn rất tự hào với những người con của tỉnh hiện đang có học hàm và học vị cao đang công tác ở một số Bộ ngành TW. Một số Đồng chí đang giữ vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, nhân hậu, cần cù, chịu khó và có truyền thống đoàn kết rất tốt đẹp.

Hiện nay tỉnh Bắc Kạn có trên 6.000 người có trình độ Trung cấp và Cao Đẳng, trên 3.000 người có trình độ Đại học, gần 100 Thạc sỹ và 5 Tiến sỹ hiện đang công tác tại tỉnh.

Nguồn lao động của tỉnh Bắc Kạn khá dồi dào, hiện có khoảng gần 200.000 lao động. Hiện tại số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 164.025 người. Nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Kạn khá đông có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các Doanh nghiệp có dự án đầu tư tại tỉnh Bắc Kạn với giá thuê nhân công rẻ hơn các nơi khác. Tuy nhiên nếu cần lao động lành nghề và lao động có trình độ kỹ thuật cao thì cần tiếp tục đào tạo nâng cao...

5. Một số lợi thế khác

* Về giao thông và kết cấu hạ tầng: Tuy Bắc Kạn là tỉnh nằm sâu trong lục địa, song có Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng tỉnh Cao Bằng hiện đã được cải tạo nâng cấp và khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá. Khoảng cách từ tỉnh Bắc Kạn đến cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh - Lạng Sơn khoảng 200 km, đường bộ từ thị xã Bắc Kạn đến Sân bay Nội Bài 150 km và Cảng Hải phòng chỉ trên 200 km. Như vậy có thể thấy việc giao lưu thông thương hàng hoá từ Bắc Kạn đến các cửa khẩu của Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội là khá thuận tiện.

- Hệ thống điện lưới quốc gia và hệ thống thông tin liên lạc đã được đầu tư đến tất cả các xã, các trung tâm thị trấn, thị xã đã phủ sóng điện thoại di động.

* Về khí hậu thuỷ văn:
           
Khí hậu của Bắc Kạn có nhiều nét đặc trưng như sau:

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20-220C, trung bình cao nhất từ 25-280C, trung bình thấp nhất từ 10-110C. Với chế độ nhiệt như vậy, đã hình thành trên địa bàn tỉnh nhiều tiểu vùng khí hậu đất đai khác nhau, thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi tạo thế mạnh cho từng khu vực, với các loại sản phẩm đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Về gió bão: Bắc Kạn nằm sâu trong nội địa lại có núi sâu che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão. Bão đến Bắc Kạn thường ít gây tác hại, chỉ có nước lớn và trên các sông suối…

Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn phân bố khá dày hặc song hầu hết đều rất ngắn, lưu vực nhỏ và độ dốc dòng chảy lớn, lòng hẹp và có nhiều thác ghềnh. Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông chính:
       
- Sông Lô, Sông Gâm chảy sang Tuyên Quang.
        
- Sông Bằng Kỳ cùng chảy qua huyện Na Rì sang tỉnh Lạng Sơn rồi đổ sang Trung Quốc. 
        
- Sông Bằng Giang chảy về Cao Bằng.
        
- Sông Cầu là hệ thống sông lớn nhất trên địa bàn tỉnh, bắt nguồn từ dãy núi Hoa Nam, chảy qua Bạch Thông sang Thái Nguyên rồi đổ về Bắc Ninh. Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, Sông Cầu dài khoảng 60 km, rộng 120-150 m.

Với những tiềm năng, lợi thế như trên, tỉnh Bắc Kạn rất mong sẽ sớm được đón tiếp các nhà đầu tư vào tỉnh, góp phần xây dựng quê hương Bắc Kạn giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững./.