Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện nay có 7 dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Mông, Sán Chay. Mặc dù mỗi dân tộc có một phong tục tập tập quán sinh hoạt khác nhau nhưng các dân tộc luôn sống trong sự đoàn kết, hòa đồng, tạo nên bức tranh văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc của Bắc Kạn.
Người Tày: Chiếm tỷ lệ đông nhất với 60,04% dân số toàn tỉnh (theo niên giám thống kê 1997).
Người Tày là cộng đồng dân cư sống trên đất Bắc Kạn từ rất sớm, tập trung chủ yếu ở các vùng thấp, thị trấn, thị xã, tập trung thành nà, bản, khuân khuổi trong các thung lũng lòng chảo hoặc dọc hai bên bờ sông suối. Đây là lớp dân cư bản địa ở Việt Nam, được đánh giá là có trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao trong vùng.
Cấu trúc ngôi nhà của người Tày là nhà sàn. Tính từ cửa đi vào nhà thường có 2 gian chính trở lên và 2 gian phụ, gian ngoài bố trí làm sàn nước, sinh hoạt nội trợ, gian trong là nơi ngủ của gia đình. Quy mô của ngôi nhà được tính bắng số cột chính. Với dân trong bản, bình thường thì nhà có 10 đến 16 cột, nhà giàu thường có số cột nhiều hơn. Cách bài trí trong nhà được bài trí một cách chặt chẽ: gian chính thường để tiếp khách nam giới; gian giữa là nơi đặt bàn thờ ở phía trên, bếp ở phía dưới, là nơi diễn ra các các lễ nghi và công việc hệ trọng; gian phía trong là nơi nghỉ ngơi của của phụ nữ và tiếp khách nữ giới. Mọi sinh hoạt đều theo khuôn phép, đàn bà con gái không được đi qua phía trên bếp, trước bàn thờ. Cầu thang luôn có số bậc lẻ, thông thường có 7 bậc.
Trang phục của người Tày: quần áo bằng vải sợi bông, phụ nữ đầu vấn khăn, mặc áo dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách, cài cúc ở bên phải, thắt lưng bằng vải và tất cả đều được nhuộm màu chàm.
Nền văn hóa dân gian của người Tày hết sức phong phú: gồm các thể loại thơ, ca, múa, nhạc. Các làn điệu dân ca phổ biến là hát then với cây đàn tính, hát lượn, phong slư, hát thơ lẩu đối đáp trong lễ cưới…Hàng năm, người Tày thường tổ chức rất nhiều lễ hội. Đặc sắc nhất là lễ hội Lồng tồng diễn ra vào tháng Giêng để cầu khấn cho vụ mùa năm mới mưa thuận gió hòa, nhân khang thịnh vượng. Trong lễ hội có các trò chơi dân gian như tung còn, đánh yến, đánh quay, thi bày mâm cỗ thu hút đông đảo nhân dân tham gia.
Nghề truyền thống của người Tày là sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, ngô khoai, sắn và nghề thủ công như mộc, rèn, đan lát, dệt vải, dệt thổ cẩm. Đến nay, nghề dệt vải và dệt thổ cẩm vẫn còn duy trì ở phía Bắc huyện Ba Bể.
Là dân tộc chiếm tỉ lệ dân số cao nhất của tỉnh nên cùng với tiếng phổ thông, ngôn ngữ Tày đóng vai trò quan trọng trong việc giao tiếp giữa các dân tộc trong vùng.
Người Kinh:
Người kinh có mặt tại Bắc Kạn từ xa xưa và khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam thì người Kinh ở Bắc Kạn tăng lên. Hiện nay, tại Bắc Kạn, người kinh có số lượng đông thứ hai sau người Tày, chiếm 19,36%(1997) và sống chủ yếu ở những vùng thấp và đô thị. Hình thức quần cư của người Kinh là các xóm làng, ít tập trung đông thường chạy dọc theo thung lũng ven sông, suối.
Tuy ở miền núi nhưng kiến trúc nhà của người Kinh vẫn giữ kiến trúc như nhà của người Kinh miền xuôi chứ không xây dựng nhà sàn như người Tày, Nùng. Bộ khung nhà của người Kinh chủ yếu bằng gỗ, xương mái được kết hợp giữa gỗ, với tre và bương, mái lợp ngói. Tường nhà được xây bằng gạch hoạc thưng ván xẻ, nền được lát gạch hoa hoặc láng xi măng. Nhà thường có 3 gian: gian chính giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên theo dòng họ cha, gần cửa ra vào là nơi tiếp khách, hai bên là chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình.
Trang phục của người Kinh: Nữ giới trẻ mặc áo sơ mi, quần dài vải mềm hoặc quần âu may bó hay may đầm. Phụ nữ đã có tuổi mặc quần thâm, áo xẻ tà, ngực cài khuy có viền sáng hoặc tối, tóc vấn quanh đầu hoặc buộc ở đằng sau. Còn nam giới hầu hết mặc quần âu áo sơ mi các loại.
Vốn cư trú vùng thấp nên người Kinh làm nghề trồng lúa nước, làm vườn, chăn nuôi gia súc gia cầm, chài lưới, làm nghề thủ công truyền thống. Người Kinh không chỉgiàu kinh nghiệm sản xuất mà còn có khả năng kinh doanh. Họ áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất-kinh doanh nên tham gia hầu hết các nghành nghề : dịch vụ, sản xuất nông-lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công..
Người Dao:
Chiếm 9,45% dân số toàn tỉnh (1997).
Kiến trúc nhà của người Dao là nhà gỗ, không có kiểu nhà chình tường. Hầu hết các ngôi nhà đều có mộng, cột dục lỗ, ít nhà kiểu cột ngoãm, cũng ít nhà lợp gianh. Nhà thường có 3 hoặc 5 gian nên thường có 4 hoạc 6 vì kèo. Nhà có 3 cửa vào, ít cửa sổ, có 2 bếp, có sự quy định rõ ràngvề nơi để đồ đạc và nơi ngủ của từng người trong gia đình.
Trang phục của người Dao rất cầu kì:
Phụ nữ Dao Tiền mặc váy có in hoa gấp khúc, cúc áo trước làm bằng bạc, cổ và ngực áo của phụ nữ Dao Đỏ được trang trí bằng nhiều quả sợi bông đỏ, đẹp và sặc sỡ. Tùy theo từng nhóm, bộ nữ phục người Dao có khăn áo, dây lưng, quần hoặc váy yếm và xà cạp. với nhóm Dao tiền, khăn có hai loại: khăn đội đầu và khăn mặt. Cả hai loại khăn này đều là khăn trắng, dài gần 2m, rộng 25cm. khăn đội đầu được thêu cái ấn Bàn Vương ở 2 đầu, khăn mặt thêu nhiều hình thù. Dao Áo Dài thường đội một loại mũ dẹt như cái đĩa làm từ tóc rối, trên đỉnh đính một hình sao bạc hoặc những mảnh trú. Ngoài mũ phủ một tấm khăn thêu hình chữ nhật, có tua ở hai đầu. Áo thường có màu đen hoặc màu chàm, cài khuy bên phải, cổ thấp có thùa, trang trí bằng những chiếc khuy và mảnh bạc ở cổ và hò áo.
Nam giới người Dao Tiền ngoài mũ áo, dây lưng và mũ ra còn có vay. Mũ có hình như chiếc mào gà, áo có hai loại: một loại giống như áo dài nữ, một loại là áo liền váy màu chàm và không có trang trí. Đối với váy không liền áo thì thêu hoa văn hình người, hình cây ở gấu áo. Nam giới Dao Áo Dài, trước đây thường mặc áo chàm hoặc đen, dài gần đến đầu giối (nên gọi là Dao Áo Dài). Các nhóm Dao đều sử dụng nhiều loại trang sức bằng bạc.
Văn hóa của người Dao rất độc đáo nhất là vốn kiến thức về y học cổ truyền, có nhiều loại hình văn nghệ đặc sắc như: hát lượn “pả dzung” trong những ngày lễ hội, Tết, đám cưới. Người Dao sử dụng văn tự Hán đã dược Dao hóa nên gọi là chữ “Nôm Dao”.
Người Dao trước đây thường sống du canh du cư, phát rẫy trồng tỉa nên cuộc sống không ổn định. Ngày nay, các hộ đồng bào người Dao đã định cư để phát triển sản xuất, đời sống tinh thần đã được nâng cao.
Người Nùng:
Chiếm 7,40% dân số của tỉnh (1997).
Người Nùng cư trú ở vùng thấp, xen kẽ với người Tày và người Kinh, có chung ngữ hệ và nét sinh hoạt tập quán với người Tày. Dân tộc Nùng có nhiều nhánh: Nùng Phàn Sình, Nùng Inh, Nùng An, Nùng Cháo
Kiến trúc nhà của người Nùng giống nhà của người Tày. Nhà có 4 mái, 2 mái chính cao hơn 2 mái hồi. Bộ sườn nhà có nhiều kiểu vì kèo khác nhau: vì kèo 4,5,6 hay 7 hàng cột, phổ biến hơn cả là vì kèo 6 hàng cột. mái nhà thường không dốc lắm, sàn nhà cao hơn mặt đất1,8-2m, được lát bằng ván hay giát mai đã ngâm kĩ để chống mọt. Xung quanh nhà quây bằng liếp nứa hoặc ván gỗ. Nhà có 3 cửa sổ, 2 cửa chính, cửa trước vào nhà đặt ở cầu thang bên phải. Cầu thang luôn là số lẻ, sân sàn rộng 2-3m2 làm nơi hong phơi.
Bố cục nhà sàn người Nùng Bắc Kạn chia làm 2 phần: phần dưới đối diện với cửa chính đi vào dành cho phụ nữ, xếp theo tuần tự: mẹ, con dâu cả, con dâu thứ, con gái chưa chồng. Phần trên dành cho đàn ông. Bàn thờ tổ tiên đặt ở sát sườn nhà gian thứ hai từ ngoài vào. Ở giữa nhà là bếp.
Văn hóa tiêu biểu của người Nùng là những làn điệu sli - những câu hát ví von, trao đổi tình cảm trong những ngày xuân hay ngày chợ phiên mà từng tốp nam nữ thanh niên đối đáp với nhau vui vẻ.
Người Nùng thường sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, ngô, đỗ, các loại cây ăn quả.
Người Sán Chay:
Dân tộc Sán Chay còn có tên gọi khác là Cao Lan, Sán Chỉ. Người Cao Lan chia làm hai nhóm khác nhau được phân biệt bởi ngôn ngữ: nói tiếng Cao Lan gần gũi với tiếng Tày, Nùng và nhóm nói tiếng Sán Chỉ gần với tiếng Hán. Tiếng Sán Chay được xếp vào ngôn ngữ Tày-Thái.
Kiến trúc nhà của người Sán Chay chủ yếu là nhà sàn, rộng rãi, lợp cọ, như nhà của người Tày. Bếp lửa đặt giữa nhà, bàn thờ tổ tiên ở sát vách sau gian giữa, gian phía trong dành cho phụ nữ, gian ngoài giành cho nam giới và đây cũng là nơi tiếp khách.
Trang phục của người Sán Chay gần giống người Kinh hoặc Tày. Thường ngày, phụ nữ Sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao để thay cho thắt lưng. Phụ nữ thường mặc áo tứ thân màu chàm kiểu miền xuôi, 2 bên nẹp áo trước ngực được ghép vải trắng hay đỏ và thêu đôi hoa nhỏ, phía sau lưng cũng thêu hoa nhỏ ở góc gấu áo, ghép vải trắng vuông. Trong những ngày tết hoặc lễ hội, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiều màu sắc khác nhau.
Văn hóa của người Sán Chay rất phong phú gồm nhiều truyện cổ, thơ ca, hò vè, tục ngữ, đặc biệt là hát “sềnh cô” là hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ đặc sắc nhất của người Sán Chay. Các điệu múa của người Sán Chay gồm: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa thắp đèn…nhạc cụ của người Sán Chay gồm thanh la, não bạt, chuông, kèn.
Người Mông:
Người Mông di cư từ Cao Bằng, Yên Bái, Hà Giang xuống Bắc Kạn, thường có nhiều nhánh như: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Sí(Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán).
Kiến trúc nhà của người Mông thường có 2 cửa ra vào: cửa chính ở phía trước, cửa sau mở ra phía trái đầu hồi. Cũng có nơi cửa phụ thông từ gian có bếp lò ra phần chái nhà, đây là nơi sinh hoạt của phụ nữ. Ở một số nơi, ngoài cửa chính và cửa phụ còn có cửa bí mật dành riêng cho cho con gái chưa chồng ra vào. Phần hiên trước nhà và hai bên đầu hồi là nơi để nông cụ. Chuồng ngựa, trâu, gà, lợn, bò thường đặt ở phía trước nhà hoặc đầu hồi sau.
Trang phục của người Mông rất cầu kì, mỗi nhánh phụ nữ người Mông có trang phục khác nhau. Trang phục cổ truyền của phụ nữ Mông gồm có váy, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân. Áo của phụ nữ Mông không có cổmà là một miếng vải được thêu sặc sỡ trên bả vai, váy của họ mở nếp xòe rộng. Ngoài váy và áo, bộ trang phục của nữ giới người Mông Bắc Kạn còn có khăn, thắt lưng, xà cạp, nhiều nơi còn có thêm tạp dề và đồ trang sức như vòng cổ, nhẫn, vòng tai, bộ xà tích bằng bạc hoặc bằng nhôm, giày vải, ô, và dép nhựa hoặc có nơi phụ nữ bịt răng vàng, đeo đồng hồ. Nam giới người Mông mặc quần áo màu đen, cắt may theo kiểu truyền thống. Hiện nay, nhiều nơi xu thế mặc âu phục ngày càng phổ biến.
Khèn và đàn môi là hai nhạc cụ độc đáo nhất của người Mông.
So với các dân tộc khác, người Mông nhập cư vào Bắc Kạn muộn hơn nên họ thường khai phá rừng để trồng ngô.
Người Hoa:
Có nguồn gốc di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn sinh sống. Người Hoa ở Bắc Kạn thường dựng làng ở chân núi, đồi, nơi đất đai bằng phẳng, gần nguồn nước, đặc biệt là giao thông thuận tiện.
Kiến trúc nhà của người Hoa thuộc nhà đất, chủ yếu là loại nhà 3 gian 2 chái. Nhiều nhà không có bộ khung cột, các cột được thay thế bằng tường (chình hoặc xây bằng gạch mộc). Nhà người Hoa ít cửa sổ, chỉ có một cửa chính đi vào và một cửa phụ mở phía sau. Gian chính giữa là gian quan trọng nhất. Đây là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và để chủ nhà tiếp khách, nghỉ ngơi …Các gian bên cạnh giành cho những thành viên khác trong gia đình. Hai chái có 2 vách ngăn thường dành cho việc sinh hoạt của nữ giới trong nhà và để rương hòm đựng quần áo và các thứ khác.
Trang phục của người Hoa: theo truyền thống nam giới người Hoa mặc áo xẻ ngực, có cúc khuy vải, có 4 túi không nắp, đầu đội mũ nồi đen. Nữ giới mặc áo slừ khoẳn-kiểu áo dài 5 thân, dài quá mông, không có túi, cài khuy tết bằng vải ở nách bên phải. Hoặc là mặc áo cộc tay, cắt may giống áo 5 thân nhưng có 2 túi, miệng túi ghép thêm một mảnh vải màu. Quần áo của nam nữ người Hoa thường may rộng, có nối cạp và dây dút để thắt, quần áo thường cùng một màu chàm đen, ít thêu thùa. Trong đám cưới, chú rể mặc áo dài, quần đỏ, đội mũ phớt có cài 2 bông hoa bằng giấy màu vàng, có một băng đỏ thắt từ trên vai trái xuống nách phải. Cô dâu mặc áo dài có thắt lưng vải màu chàm đen, đầu quấn khăn tròn, có quạt giấy che mặt.
.
Hương Dịu
(Biên tập theo Tư liệu NXB Chính trị Quốc gia)